Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia Liên minh Bioversity International và Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) (gọi tắt là Liên minh) cung cấp các giải pháp giải quyết khủng hoảng toàn cầu về suy dinh dưỡng, biến đổi khí hậu, mất đa dạng sinh học và suy thoái môi trường. Liên minh tập trung vào mối liên kết giữa nông nghiệp, dinh dưỡng và môi trường. Liên minh hợp tác với các đối tác địa phương, quốc gia và quốc tế tại châu Phi, châu Á, châu Mỹ Latinh và Caribe, cũng như với khu vực công, tư và các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Thông qua các hình thức hợp tác đổi mới, Liên minh tạo ra bằng chứng và phổ biến các sáng kiến nhằm chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm và cảnh quan theo hướng bền vững, thúc đẩy sự thịnh vượng và bảo đảm dinh dưỡng cho người dân trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu. Liên minh là thành viên của CGIAR - mạng lưới nghiên cứu toàn cầu vì tương lai an ninh lương thực thực phẩm, cam kết chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm, đất đai và nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu. www.alliancebioversityciat.org www.cgiar.org Trích dẫn: Even Brice, Trang Thị Thu Trương, Dương Thu Nguyễn, Hương Thị Mai Phạm, Hằng Thị Minh Thái, Anh Thị Việt Bùi, và Christophe Béné. 2025. Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam: Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia. Bản khuyến nghị chính sách. Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), Hà Nội, Việt Nam. 15 trang. Lời cảm ơn: Tài liệu này được xây dựng trong khuôn khổ Sáng kiến Sustainable Healthy Diets (SHiFT), với sự đóng góp từ Chương trình Khoa học Better Diets and Nutrition (BDN) của CGIAR. Chúng tôi trân trọng cảm ơn các nhà tài trợ đã hỗ trợ nghiên cứu này thông qua Quỹ CGIAR Trust Fund. Các nhà tài trợ không tham gia vào quá trình thiết kế nghiên cứu, thu thập, phân tích dữ liệu, viết bản thảo, hoặc quyết định công bố kết quả. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS. TS. Đào Thế Anh, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS); PGS. TS. Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia (NIN); và TS. Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (ISPAE) đã có những góp ý quý báu. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới nhóm chuyên gia đã đóng vai trò then chốt trong quá trình phân tích và xác thực kết quả. Đặc biệt cảm ơn Bà Carolina Polo từ Liên minh đã hỗ trợ định dạng tài liệu. Ảnh bìa: Hà Đào/CIAT. © CIAT 2025. Bản quyền. Tài liệu này được cấp phép theo giấy phép Creative Commons Attribution 4.0 International (CC-BY 4.0). https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en Tháng 8 năm 2025 http://www.alliancebioversityciat.org/ http://www.alliancebioversityciat.org/ http://www.alliancebioversityciat.org/ http://www.alliancebioversityciat.org/ http://www.alliancebioversityciat.org/ http://www.cgiar.org/ http://www.cgiar.org/ http://www.cgiar.org/ http://www.cgiar.org/ http://www.cgiar.org/ https://www.cgiar.org/initiative/sustainable-healthy-diets/ https://www.cgiar.org/initiative/sustainable-healthy-diets/ https://www.cgiar.org/initiative/sustainable-healthy-diets/ https://www.cgiar.org/cgiar-research-porfolio-2025-2030/better-diets-and-nutrition/ https://www.cgiar.org/cgiar-research-porfolio-2025-2030/better-diets-and-nutrition/ https://www.cgiar.org/cgiar-research-porfolio-2025-2030/better-diets-and-nutrition/ https://www.cgiar.org/cgiar-research-porfolio-2025-2030/better-diets-and-nutrition/ https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/deed.en Môi trường lương thực thực phẩm bao gồm các yếu tố vật lý, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến cách thức tiếp cận, chế biến và tiêu thụ lương thực thực phẩm (LTTP) [1]. Môi trường lương thực thực phẩm đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chế độ ăn, kết quả sức khỏe và tiến trình đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Tại Việt Nam, cũng như tại nhiều quốc gia khác, môi trường lương thực thực phẩm đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của quá trình đô thị hóa, thu nhập tăng, lối sống thay đổi, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động tiếp thị, nền tảng kỹ thuật số và những chuyển dịch trong hệ thống lương thực thực phẩm toàn cầu [2, 3]. Bản khuyến nghị chính sách này góp phần nâng cao hiểu biết về môi trường lương thực thực phẩm, đồng thời phân tích các hướng cải thiện chính sách tại Việt Nam để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang một hệ thống lương thực thực phẩm lành mạnh và bền vững hơn. Giới thiệu Môi trường lương thực thực phẩm định hình thói quen ăn uống. Trẻ em đứng trước quầy hàng chứa đầy đồ ăn vặt siêu chế biến trong một siêu thị tại Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. [1] FAO (2016). Influencing food environments for healthy diets [2] Baker, P. (2020) Ultra-processed foods and the nutrition transition [3] Harris, J. (2020) Nutrition transition in Vietnam: changing food supply, food prices, household expenditure, diet and nutrition outcomes Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia│ 3 https://openknowledge.fao.org/handle/20.500.14283/i6484en https://openknowledge.fao.org/handle/20.500.14283/i6484en https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/obr.13126 https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/obr.13126 https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/obr.13126 https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/obr.13126 https://link.springer.com/article/10.1007/s12571-020-01096-x https://link.springer.com/article/10.1007/s12571-020-01096-x Môi trường lương thực thực phẩm là nơi giao thoa giữa hệ thống lương thực thực phẩm và chế độ ăn. Khái niệm này phản ánh bối cảnh tiếp cận LTTP, cùng với các đặc tính của LTTP như giá cả, cách thức tiếp thị, phân phối và tiêu thụ [4, 5]. Các khía cạnh cốt lõi của môi trường lương thực thực phẩm bao gồm: Những khía cạnh này được định hình bởi quá trình lựa chọn chính sách, động lực thị trường và cấu trúc nền tảng của hệ thống lương thực thực phẩm; đồng thời có thể được cải thiện thông qua các can thiệp cụ thể, có mục tiêu. Mỗi cá nhân trải nghiệm môi trường lương thực thực phẩm theo đặc điểm riêng của mình (như thu nhập, kiến thức, giá trị văn hóa hay khả năng di chuyển). Những yếu tố này định hình cách họ nhận thức, ưu tiên và lựa chọn các loại LTTP khác nhau. Vì vậy, các chính sách về LTTP cần đồng thời giải quyết cả đặc điểm cấu trúc của môi trường lương thực thực phẩm và các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, nhằm bảo đảm mọi người đều có thể dễ dàng tiếp cận và chi trả cho những lựa chọn LTTP lành mạnh [6]. • Tính sẵn có của LTTP: những loại LTTP nào hiện diện và có thể tiếp cận trực tiếp (về mặt vật lý). • Giá LTTP : mức giá của LTTP so với khả năng chi trả của người tiêu dùng. • Đặc tính LTTP: bao gồm chất lượng dinh dưỡng, mức độ an toàn và mức độ chế biến. • Đặc điểm của điểm bán LTTP: bao gồm loại hình, vị trí và phương thức kinh doanh. • Thông điệp về LTTP: bao gồm quảng cáo, tiếp thị và ghi nhãn sản phẩm. Môi trường lương thực thực phẩm là gì? Khung phân tích môi trường lương thực thực phẩm. Nguồn: điều chỉnh từ Turner et al. (2018) và UNSCN (2019). [4] Turner, C. (2018). Concepts and critical perspectives for food environment research: a global framework with implications for action in LMICs [5] UNSCN (2019). Food environments: Where people meet the food system [6] Swinburn, B. (2013). Monitoring and benchmarking government policies and actions to improve the healthiness of food environments4 │ Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2211912418300154 https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2211912418300154 https://www.unnutrition.org/library/publication/food-environments-where-people-meet-food-system https://www.unnutrition.org/library/publication/food-environments-where-people-meet-food-system https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/obr.12073 https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/obr.12073 Chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm đòi hỏi các chính sách định hình lại môi trường lương thực thực phẩm. Các chính sách nhằm cải thiện chế độ ăn kém lành mạnh thường đặt trọng tâm vào trách nhiệm cá nhân [7], thông qua giáo dục, nâng cao nhận thức hoặc thay đổi hành vi để khuyến khích lựa chọn lành mạnh. Tuy nhiên, quyết định lựa chọn LTTP phần lớn bị chi phối bởi các yếu tố mang tính hệ thống [8]. Cách tiếp cận này đẩy gánh nặng lên vai người tiêu dùng, đồng thời xem nhẹ tác động của môi trường lương thực thực phẩm, và làm giảm trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý. Vì vậy, việc tiếp cận từ góc nhìn môi trường lương thực thực phẩm rất cần thiết, nhằm chuyển trọng tâm từ kiến thức và lựa chọn cá nhân sang phạm vi rộng hơn, giúp xác định những loại LTTP dễ tiếp cận, giá cả phải chăng và hấp dẫn người tiêu dùng. Cách tiếp cận này góp phần thúc đẩy các biện pháp can thiệp chính sách mang tính hệ thống và công bằng hơn. Những biện pháp này sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi được triển khai đồng bộ với các quy định, công cụ tài khóa và sự lãnh đạo mạnh mẽ từ chính phủ. Hệ thống chỉ số Chính sách Môi trường lương thực thực phẩm (Food- EPI), do INFORMAS phát triển [6], là công cụ giúp đánh giá mức độ các chính sách hiện hành hỗ trợ thúc đẩy môi trường lương thực thực phẩm lành mạnh, đồng thời chỉ ra những khoảng trống và cơ hội cần ưu tiên cho hành động chính sách. Vì sao cần tập trung vào môi trường lương thực thực phẩm? [7] Swinburn, B. (2015). Strengthening of accountability systems to create healthy food environments and reduce global obesity [8] Neufeld, L. (2022). Food choice in transition: adolescent autonomy, agency, and the food environment Thanh thiếu niên trong một cửa hàng tiện lợi mới khai trương tại Hà Nội. Ảnh: Ha Dao/CIAT. Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia│ 5 https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(14)61747-5/fulltext https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(14)61747-5/fulltext https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)01687-1/fulltext https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)01687-1/fulltext Tỷ lệ thừa cân và béo phì đang gia tăng song song với quá trình thay đổi của môi trường lương thực thực phẩm. [9] Van Minh, H. (2023). Childhood overweight and obesity in Vietnam: a landscape analysis of the extent and risk factors Môi trường lương thực thực phẩm thay đổi nhanh chóng: Dịch chuyển cung-cầu Tại Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia có thu nhập trung bình thấp khác, môi trường lương thực thực phẩm đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ. LTTP siêu chế biến (thường giàu chất béo, đường và muối) ngày càng phổ biến, dễ tiếp cận và được quảng bá rầm rộ. Ngược lại, LTTP giàu dinh dưỡng khó tiếp cận hơn và có giá cao, đặc biệt đối với người có thu nhập thấp [3]. Môi trường lương thực thực phẩm hiện đại tại khu vực đô thị Việt Nam. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Đi cùng với sự thay đổi này là mối lo ngại ngày càng lớn về sức khỏe cộng đồng: trong giai đoạn 2010 -2020, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em tại Việt Nam đã tăng gấp đôi, từ 8,5% lên 19% [9]. Những thay đổi trong nguồn cung LTTP gắn liền với sự thay đổi sâu rộng của thị trường bán lẻ. Các chợ truyền thống đang dần nhường chỗ cho mạng lưới siêu thị và cửa hàng tiện lợi phát triển nhanh, làm thay đổi cách thức và địa điểm người dân tiếp cận và mua sắm LTTP. 6 │ Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/00469580231154651 https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/00469580231154651 * Thông tin chi tiết về phương pháp, quy trình chấm điểm, bằng chứng và kết quả được trình bày trong: Even, B. (2025). Unpacking food environment policy landscapes for healthier diets in “emerging” countries: the case of Viet Nam Điểm số của 35 chỉ số Điểm cao Điểm trung bình Điểm thấp Điểm rất thấp Việc đánh giá chính sách liên quan đến môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam, áp dụng Hệ thống chỉ số Chính sách Môi trường lương thực thực phẩm (Food-EPI) của INFORMAS, đã chỉ ra những khoảng trống đáng kể trong khung pháp lý*. Phần tiếp theo của bản khuyến nghị này sẽ nhận diện khái quát các khoảng trống chính sách chính. Food-EPI đánh giá hệ thống chính sách quốc gia dựa trên các thông lệ quốc tế phù hợp nhất trong các lĩnh vực then chốt của môi trường lương thực thực phẩm, bao gồm ghi nhãn LTTP, hoạt động tiếp thị và chính sách tài chính. Tại Việt Nam, 35 chỉ số đã được xem xét thông qua một quy trình có cấu trúc, do nhóm nghiên cứu độc lập chủ trì với sự tham gia tích cực của nhóm chuyên gia liên ngành cấp quốc gia. Kết quả cho thấy phần lớn các chỉ số (74%) đạt điểm thấp hoặc rất thấp, phản ánh mức độ hành động chính sách còn hạn chế ở hầu hết các lĩnh vực của môi trường lương thực thực phẩm. Ngược lại, chỉ có 12% các chỉ số được xếp hạng cao, chủ yếu liên quan đến quy định về an toàn lương thực thực phẩm và các hoạt động giáo dục cộng đồng. Những phát hiện này cho thấy, mặc dù Việt Nam đã ban hành một số chính sách nền tảng, nhưng các chính sách hiện tại vẫn còn rời rạc và chưa đầy đủ. Do đó, việc xây dựng một khung chính sách toàn diện và nhất quán là cần thiết để thúc đẩy môi trường lương thực thực phẩm lành mạnh và công bằng hơn trên toàn quốc. Đánh giá chính sách tại Việt Nam cho thấy điều gì? Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia│ 7 https://www.frontiersin.org/journals/public-health/articles/10.3389/fpubh.2025.1548956/full https://www.frontiersin.org/journals/public-health/articles/10.3389/fpubh.2025.1548956/full Việt Nam mới chỉ đạt được một số bước tiến trong việc cải thiện chất lượng dinh dưỡng của các sản phẩm LTTP. Cho đến gần đây, các nỗ lực chính sách chủ yếu tập trung vào việc giảm tiêu thụ muối. Tuy nhiên, các biện pháp này vẫn thiếu mục tiêu cụ thể, cơ chế thực thi hiệu quả và sự giám sát rõ ràng từ các cơ quan có thẩm quyền. Hiện vẫn chưa có tiêu chuẩn hay giới hạn chính thức về hàm lượng đường và chất béo chuyển hóa (trans-fat) trong LTTP đóng gói, tạo ra những khoảng trống đáng kể trong khung pháp lý. Một điểm mới đáng chú ý gần đây là việc thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường (SSBs) vào tháng 6/2025, dự kiến sẽ có hiệu lực từ năm 2027. Chính sách này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nỗ lực kiểm soát các sản phẩm LTTP không lành mạnh, đồng thời thể hiện sự gắn kết giữa công cụ tài chính và mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Ngược lại, chính sách an toàn lương thực thực phẩm đã có bước tiến mang tính hệ thống hơn. Luật An toàn thực phẩm đã làm rõ chức năng, nhiệm vụ và đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật, song việc thực thi vẫn chưa đồng đều trên toàn quốc. Năng lực thanh tra tại địa phương còn hạn chế do thiếu nhân lực được đào tạo bài bản, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phù hợp. Công tác đào tạo và truyền thông về an toàn lương thực thực phẩm cũng chưa được triển khai một cách nhất quán. Trong khi một số tỉnh, nhờ có hỗ trợ quốc tế hoặc cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo địa phương, đã cải thiện đáng kể hoạt động tuyên truyền và tập huấn cho lực lượng thanh tra, thì nhiều địa phương khác, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vẫn tồn tại khoảng cách lớn về nhận thức và khả năng thực thi. Quản lý LTTP siêu chế biến mới chỉ đáp ứng yêu cầu an toàn lương thực thực phẩm, chưa có quy định riêng. Đặc tính sản phẩm lương thực thực phẩm Cà chua an toàn, được chứng nhận, bày bán tại siêu thị ở Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Đồ ăn vặt siêu chế biến trong cửa hàng tiện lợi tại Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Kệ hàng chất đầy mì ăn liền trong một cửa hàng tiện lợi tại Mộc Châu. Ảnh: Hà Đào/CIAT. 8 │ Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam Chính sách hiện hành tại Việt Nam chưa phân biệt các loại hình điểm bán lương thực thực phẩm dựa trên chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm được kinh doanh. Chiến lược quốc gia và quy hoạch sử dụng đất đô thị chủ yếu tập trung khuyến khích mở rộng hệ thống bán lẻ hiện đại (như siêu thị và cửa hàng tiện lợi), nhưng chưa đưa ra yêu cầu hoặc ưu tiên rõ ràng nhằm thúc đẩy việc cung cấp LTTP lành mạnh, cũng như chưa có cơ chế hạn chế đối với các sản phẩm không lành mạnh. Ngược lại, các điểm bán không chính thống (thường là nguồn cung cấp LTTP tươi và giá cả phải chăng cho các hộ gia đình thu nhập thấp) lại đang chịu áp lực quản lý ngày càng lớn, chủ yếu thông qua các biện pháp tăng cường giám sát an toàn lương thực thực phẩm. Mặc dù các quy định này được ban hành với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng, chúng cũng có thể làm tăng chi phí tuân thủ đối với các hộ kinh doanh nhỏ lẻ và vô tình tạo lợi thế cạnh tranh cho các kênh bán lẻ quy mô lớn, vốn thường cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp hơn. Chính sách về mua sắm và cung cấp LTTP trong khu vực công vẫn chưa được phát triển đầy đủ. Mặc dù Luật An toàn thực phẩm đã đưa ra các tiêu chuẩn chung, nhưng hiện có rất ít yêu cầu cụ thể nhằm bảo đảm chất lượng dinh dưỡng của LTTP được cung cấp tại các cơ sở công lập cũng như tư thục. Hướng dẫn về bữa ăn học đường đã được ban hành nhưng mới chỉ mang tính khuyến nghị, dẫn đến việc triển khai chưa đồng đều trên toàn quốc. Tại các cơ sở công khác, như nơi làm việc hoặc bệnh viện, các hướng dẫn về bữa ăn cũng chủ yếu mang tính tự nguyện và chưa được thực hiện đồng đều, để lại những khoảng trống đáng kể trong quản lý và giám sát việc cung cấp LTTP hàng ngày. Khuyến khích mở rộng hệ thống bán lẻ hiện đại. Người bán hàng rong bán rau tươi tại Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Cửa hàng thuộc chuỗi thức ăn nhanh tại Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Cửa hàng nhượng quyền kem và trà sữa tại khu vực ven đô. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Đặc điểm của điểm bán lương thực thực phẩm Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia│ 9 Quảng cáo LTTP ít dinh dưỡng, nhất là cho trẻ em, hiện chưa được quản lý chặt chẽ. Tại Việt Nam, khung pháp lý về hoạt động tiếp thị LTTP vẫn chưa đủ mạnh. Mặc dù một số văn bản chính sách quốc gia đã đề cập đến sự cần thiết hạn chế quảng cáo ở khu vực xung quanh trường học, hiện vẫn chưa có quy định cụ thể để kiểm soát việc quảng bá các sản phẩm LTTP và đồ uống không lành mạnh, đặc biệt là những sản phẩm hướng tới trẻ em. Quy định về ghi nhãn LTTP yêu cầu các sản phẩm đóng gói phải công bố danh mục thành phần và thông tin dinh dưỡng, nhưng việc thực thi vẫn còn yếu do thiếu cơ chế giám sát và phê duyệt rõ ràng. Các tuyên bố về lợi ích sức khỏe trên LTTP chế biến chưa được quản lý chặt chẽ; việc ghi nhãn ở mặt trước bao bì vẫn mang tính tự nguyện và chưa có hướng dẫn tiêu chuẩn, hạn chế khả năng của người tiêu dùng trong việc nhanh chóng đánh giá mức độ lành mạnh của sản phẩm. Các chính sách và sáng kiến cho khu vực công hiện nay chủ yếu tập trung vào giáo dục người tiêu dùng. Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng được triển khai nhằm phổ biến hướng dẫn về chế độ ăn uống, đồng thời tổ chức đào tạo dinh dưỡng cho cán bộ truyền thông và nhân viên y tế. Tuy nhiên, phần lớn các sáng kiến này không mang tính bắt buộc và được triển khai chưa đồng bộ, dẫn đến phạm vi ảnh hưởng hạn chế và tác động dài hạn chưa rõ nét. Cửa hàng tiện lợi ở Hà Nội trưng bày sản phẩm chế biến và siêu chế biến ở khu “Thực phẩm tươi”. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Thông điệp lương thực thực phẩm Cửa hàng kem tại Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. 10 │ Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam Việt Nam mới chỉ đạt được một số bước tiến trong việc cải thiện khả năng chi trả cho LTTP lành mạnh và sử dụng các công cụ tài chính nhằm hạn chế tiêu thụ LTTP không lành mạnh. Cho đến gần đây, các biện pháp đánh thuế đối với LTTP không lành mạnh hầu như chỉ mang tính định hướng. Tuy nhiên, vào tháng 6 năm 2025, Việt Nam đã thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường, dự kiến có hiệu lực từ năm 2027, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc sử dụng chính sách tài chính để hỗ trợ các mục tiêu dinh dưỡng công đồng. Mặc dù vậy, chiến lược tài khóa tổng thể vẫn còn nhiều hạn chế. Các chương trình trợ giá vẫn ưu tiên bình ổn giá đối với lương thực thiết yếu như gạo, muối và đường, thay vì nâng cao khả năng tiếp cận các thực phẩm giàu dinh dưỡng như trái cây, rau củ và các loại đậu. Cần có sự điều chỉnh ưu tiên nhằm định hướng chính sách giá LTTP phù hợp hơn với các mục tiêu về sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững. Chính sách tài khóa nhằm khuyến khích chế độ ăn lành mạnh vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù gần đây đã có tiến triển thông qua việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường. Biển quảng cáo khuyến mãi giá rẻ cho sản phẩm thức ăn nhanh bên ngoài một nhà hàng ở Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Chương trình “Mua 2 tặng 1” đối với đồ uống có đường trong một siêu thị tại Hà Nội. Việc giảm giá mạnh các loại đồ uống nghèo dinh dưỡng vẫn phổ biến và chưa được kiểm soát. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Giá lương thực thực phẩm và khả năng chi trả Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia│ 11 Việt Nam vẫn thiếu các chính sách cụ thể nhằm tăng cường tính sẵn có LTTP lành mạnh hoặc kiểm soát khả năng tiếp cận LTTP không lành mạnh. Hiện chưa có các ưu đãi dành cho nhà bán lẻ để khuyến khích tăng cường cung cấp các sản phẩm giàu dinh dưỡng, đồng thời cũng thiếu cơ chế hạn chế việc bày bán rộng rãi các sản phẩm siêu chế biến hoặc có giá trị dinh dưỡng thấp. Tương tự, các quy định về phân vùng chưa xem xét đến sự phân bố không gian của các điểm bán LTTP. Chưa có cơ chế hạn chế sự tập trung các điểm bán LTTP không lành mạnh, cũng như thiếu các chính sách khuyến khích phát triển những điểm bán cung cấp LTTP lành mạnh. Do thiếu các quy định, nên thị trường tiếp tục định hình môi trường lương thực thực phẩm theo hướng củng cố các thói quen ăn uống kém lành mạnh, đồng thời làm gia tăng sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận LTTP giữa các nhóm dân cư. Tiếp cận LTTP lành mạnh chủ yếu phụ thuộc vào thị trường. Các chính sách hỗ trợ tiếp cận LTTP lành mạnh còn thiếu. Tính sẵn có và khả năng tiếp cận lương thực thực phẩm Các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh ngày càng hiện diện nhiều hơn tại các đô thị Việt Nam. Ảnh: Hà Đào/CIAT. │ Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam Ảnh: Hà Đào/CIAT. • Cần hướng tới cải thiện toàn diện chất lượng dinh dưỡng vượt ra ngoài phạm vi an toàn LTTP. Điều này bao gồm xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn đối với LTTP chế biến, trong đó có hệ thống phân loại dinh dưỡng rõ ràng; định nghĩa tiêu chuẩn hóa về “lương thực thực phẩm lành mạnh” và “lương thực thực phẩm không lành mạnh”; đặt ra các mục tiêu bắt buộc nhằm giảm lượng muối, đường và chất béo chuyển hóa; đồng thời công nhận LTTP siêu chế biến là một nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng. • Cân bằng giữa việc mở rộng hệ thống bán lẻ hiện đại và đảm bảo tiếp cận LTTP tươi, lành mạnh. Các biện pháp cụ thể bao gồm: hỗ trợ các chợ truyền thống và người bán hàng không chính thức nhằm duy trì nguồn cung LTTP an toàn, tươi ngon và giá cả phải chăng; tạo ưu đãi cho các nhà bán lẻ cung cấp LTTP lành mạnh; áp dụng các tiêu chuẩn đảm bảo dinh dưỡng trong mua sắm công (đặc biệt tại trường học và bệnh viện); triển khai quy định phân vùng để hạn chế sự gia tăng các điểm bán LTTP không lành mạnh và giảm mức độ tiếp xúc của người tiêu dùng với các sản phẩm này. • Tăng cường quy định về tiếp thị và ghi nhãn LTTP, bao gồm hạn chế quảng cáo LTTP không lành mạnh hướng tới trẻ em; áp dụng bắt buộc việc ghi nhãn mặt trước bao bì; và quản lý chặt chẽ các tuyên bố về sức khỏe và dinh dưỡng. Đồng thời, bổ sung các công cụ pháp lý bằng các chiến dịch giáo dục dinh dưỡng và hướng dẫn chế độ ăn rõ ràng, nhằm nâng cao quyền lựa chọn của người tiêu dùng. • Áp dụng các biện pháp tài chính nhằm khuyến khích chế độ ăn lành mạnh. Phát huy những kết quả bước đầu, như việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường (có hiệu lực từ năm 2027), đồng thời xem xét khả năng mở rộng sang các sản phẩm LTTP siêu chế biến. Đề xuất chính sách trợ giá hoặc miễn thuế đối với LTTP giàu dinh dưỡng nhằm nâng cao khả năng chi trả và giảm bất bình đẳng về sức khỏe. Một chính sách toàn diện nhằm cải thiện môi trường lương thực thực phẩm cần đồng thời giải quyết các yếu tố cấu trúc và các vấn đề về công bằng. Những ưu tiên chính trong chính sách nên bao gồm • Đánh giá và nâng cao hiệu quả các chính sách hiện hành nhằm thúc đẩy chế độ ăn lành mạnh hơn. Phát huy dựa trên các sáng kiến đang triển khai, như chương trình trợ cấp bữa ăn bán trú tại các trường tiểu học ở Hà Nội (2025 - 2026), đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn dinh dưỡng và có cơ chế giám sát thực thi chặt chẽ. Việc đánh giá chính sách trên quy mô rộng hơn sẽ giúp nhận diện các khoảng trống, cải thiện hiệu quả và định hướng các hành động trong tương lai. Những hành động cụ thể cần thực hiện? Phân tích và làm rõ bức tranh chính sách quốc gia│ 13 Ưu tiên sức khỏe cộng đồng hơn lợi ích kinh tế ngắn hạn. Giải quyết vấn đề vận động hành lang của các tập đoàn LTTP lớn và ảnh hưởng của doanh nghiệp thông qua cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình. Ban hành các quy định bắt buộc thay vì chỉ dựa vào hình thức tự quản mang tính tự nguyện. Tăng cường năng lực địa phương và thúc đẩy hợp tác đa ngành. Những nguyên tắc cần định hướng để điều chỉnh quy định về môi trường lương thực thực phẩm? Khách hàng mua rau tươi tại khu vực “Hữu cơ & Lành mạnh” ở siêu thị Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. Quầy bán rau tại một chợ tự phát ở Hà Nội. Ảnh: Hà Đào/CIAT. 14 │ Môi trường lương thực thực phẩm tại Việt Nam Liên minh Bioversity International và Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) là một thành viên của CGIAR, mạng lưới hợp tác nghiên cứu toàn cầu vì tương lai an ninh lương thực thực phẩm. Bioversity International là tên giao dịch của Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế (IPGRI). Trụ sở chính: Via di San Domenico, 1, 00153 Rome, Ý Văn phòng Việt Nam: Viện Di truyền Nông nghiệp, Km2 Đường Phạm Văn Đồng, Phường Nghĩa Đô, Hà Nội SĐT: (+84) 24 3757 6969 www.alliancebioversityciat.org www.cgiar.org Unpacking food environment policy landscapes for healthier diets in 'emerging' countries: the case of Viet NamEven et al., 2025 Unpacking food environment policy landscapes for healthier diets in 'emerging' countries: the case of Viet Nam Even et al., 2025 Navigating the politics and processes of food systems transformation: guidance from a holistic frameworkBéné and Abdulai, 2024 Navigating the politics and processes of food systems transformation: guidance from a holistic framework Béné and Abdulai, 2024 Defining barriers to food systems sustainability: a novel conceptual frameworkEven et al., 2024 Defining barriers to food systems sustainability: a novel conceptual framework Even et al., 2024 Số đặc biệt: The Many Faces of Sustainable Food Số đặc biệt: Sustainable Approaches to Public Health Via Food Policy Actions Tham khảo các ấn phẩm liên quan Liên hệ: Brice Even | b.even@cgiar.org Chuyên gia, Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế, Văn phòng Việt Nam http://www.alliancebioversityciat.org/ http://www.cgiar.org/ https://www.frontiersin.org/journals/public-health/articles/10.3389/fpubh.2025.1548956/abstract https://www.frontiersin.org/journals/sustainable-food-systems/articles/10.3389/fsufs.2024.1399024/full https://www.frontiersin.org/journals/sustainable-food-systems/articles/10.3389/fsufs.2024.1453999/full/ https://www.frontiersin.org/research-topics/22771/the-many-faces-of-sustainable-food/magazine https://www.frontiersin.org/research-topics/65926/sustainable-approaches-to-public-health-via-food-policy-actions https://www.frontiersin.org/research-topics/65926/sustainable-approaches-to-public-health-via-food-policy-actions mailto:b.even@cgiar.org Slide 1 Slide 2 Slide 3 Slide 4 Slide 5 Slide 6 Slide 7 Slide 8 Slide 9 Slide 10 Slide 11 Slide 12 Slide 13 Slide 14 Slide 15